top
   
 

 
left_vietnamese.htm
Giới thiệu

VPLS Hải Hà

Lĩnh vực hoạt động

Thành viên VLC

Biểu phí / Thanh toán

Liên lạc với chúng tôi !

Tuyển dụng

Q & A

Pháp điển Luật Việt nam
Luật Việt nam

Tin pháp luật

Nghiên cứu - Binh lụận

Thực tiễn hành chính

Thực tiễn xét xử

Giải quyết tranh chấp

Luật quốc tế

Dân sự có yếu tố nước ngoài

Thương mại quốc tế

Điều ước quốc tế

Pháp và Liên minh Châu Âu

Chuyên mục

Hợp đồng

Sở hữu trí tuệ

Thuật ngữ luật

  
Từ bắt đầu bằng
Từ đầy đủ

Thực tiễn hành chính


Ghi thế nào trong giấy khai sinh?
23-03-2006

Trong số các loại giấy tờ tuỳ thân, giấy khai sinh là loại giấy tờ được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp sớm nhất cho một con người. Điều 5 Nghị định số 158/2005/NĐ - CP ngày 27/12/2005 (Nghị định158) của Chính phủ về đăng kư và quản lư hộ tịch (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/4/2006) khẳng định: “Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó”. Như vậy, đối với một con người, khi có Giấy khai sinh - hộ tịch gốc - người đó đă là một công dân có đủ mọi quyền và nghĩa vụ theo pháp luật đối với nhà nước và xă hội. Tuy vậy, việc ghi những ǵ trong giấy khai sinh lại là câu chuyện đáng bàn và nên được bàn cho thấu đáo, v́ tất cả mọi thông số liên quan đến cuộc đời một công dân, luôn bắt đầu từ hộ tịch gốc này.



TS. Lê Quốc Hùng

Nghị định 158 đă quy định đầy đủ, chi tiết và ưu việt hơn trong việc khai sinh cho trẻ. Thẩm quyền cấp giấy khai sinh thuộc UBND cấp xă, nơi cư trú của người mẹ; nếu không xác định được nơi cư trú của người mẹ, th́ UBND cấp xă nơi cư trú của người cha thực hiện việc đăng kư khai sinh. Việc đăng kư khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi được thực hiện tại UBND cấp xă nơi cư trú của người đang tạm thời nuôi dưỡng hoặc nơi có trụ sở của tổ chức đang tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó. Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha mẹ hoặc người thân có trách nhiệm đi khai sinh cho con (Nghị định cũ quy định thời hạn này là 30 ngày). Người đi đăng kư khai sinh phải nộp giấy chứng sinh và xuất tŕnh giấy chứng nhận kết hôn của cha mẹ trẻ em. Giấy chứng sinh do cơ sở y tế - nơi trẻ em sinh ra - cấp; nếu trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế th́ giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của người làm chứng. Tuy nhiên, đối với trẻ em sinh ra ngoài cơ sở y tế và không có người làm chứng th́ không nhất thiết phải có giấy chứng sinh hoặc văn bản xác nhận của người làm chứng, mà chỉ cần làm giấy cam đoan về việc sinh là có thật. So với quy định trước đây, việc khai sinh đă giảm bớt những yêu cầu về sổ hộ khẩu hoặc giấy đăng kư tạm trú của người mẹ, đồng thời giảm bớt các điều kiện đối với người làm chứng cho việc sinh trẻ em. Nếu quá thời hạn 60 ngày, giấy khai sinh cũng vẫn được cấp nhưng ghi rơ trong sổ khai sinh là “đăng kư quá hạn”. Trường hợp bản chính bị mất, hư hỏng hoặc phải ghi chú quá nhiều được cấp lại bản chính giấy khai sinh nếu sổ đăng kư khai sinh c̣n lưu trữ được và sẽ do UBND cấp huyện thực hiện.

Tuy nhiên, trong Nghị định c̣n nhiều điều ghi chưa cụ thể mà lẽ ra, các quy định này có thể làm được ngay. Ví dụ việc xác định dân tộc cho trẻ buộc phải theo dân tộc của bố hay mẹ; việc ghi quê quán của trẻ là theo quê ông nội hay theo nơi thường trú của bố, mẹ hoặc ghi theo nơi sinh của bố; nơi sinh ghi là tỉnh, thành phố đứa trẻ sinh ra hay ghi tên bệnh viện… Điều này cũng gây những bất cập khi áp dụng mà ư kiến xin nêu dưới đây là một ví dụ.

Từ trước đến nay, pháp luật về hộ tịch quy định nguyên quán của một con người phải ghi theo nơi sinh của cha. Trên thực tế, đây cũng là vấn đề đáng bàn v́ ngoài quy định hiện hành trên, c̣n có thêm hai loại ư kiến và sự vận dụng linh hoạt của từng địa phương là: nguyên quán của một con người phải ghi theo “quê quán gốc” hoặc ghi theo nơi thường trú. Xem ra ư kiến nào cũng có cái lư của nó.

Trước hết, quan điểm chính thống hiện hành là ghi theo nơi sinh của người cha đứa trẻ. Phải thừa nhận rằng hầu hết các trường hợp nguyên quán ghi theo nơi sinh của cha là hợp lư. Nhưng trên thực tế, có những người cha chỉ sống tại nơi sinh ra ḿnh có một thời gian ngắn, thậm chí rất ngắn và nơi sinh đó chẳng dính líu ǵ đến quê cha đất tổ. Bố tôi quê ở huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An, rồi lớn lên đi theo kháng chiến, tham gia chiến dịch Điện Biên và kết hôn với mẹ tôi quê ở Thái B́nh nhưng hoạt động cùng đơn vị, sinh ra tôi tại Điện Biên vào mùa Xuân năm 1955. Khi tôi chỉ mới bốn tháng, bố mẹ được điều động về thành phố Vinh công tác rồi về hưu ở đó. Tôi lớn lên với giấy khai sinh trong đó ghi nơi sinh là Điện Biên và nguyên quán là Nam Đàn, Nghệ An (và ghi như vậy là đúng). Năm 1978, tốt nghiệp đại học, được phân công công tác ở Hà Nội. Rồi tôi lập gia đ́nh và sinh được hai con. Vậy nguyên quán của các con tôi nếu ghi trong Giấy khai sinh là Điện Biên có phù hợp không? Mặc dầu nơi hoạt động một thời gian ngắn, lập gia đ́nh của bố mẹ tôi và sinh ra tôi nhưng Điện Biên rơ ràng không phải là quê hương tôi. Từ trước tới nay, khi làm giấy khai sinh cho các con tôi đều ghi nguyên quán là Nam Đàn, Nghệ An (và như vậy là hợp lư). Chẳng lẽ nay lại phải thay đổi Giấy khai sinh của các con tôi? Vả lại, thay đổi trên giấy tờ th́ có thể nhưng làm sao thay đổi trong tiềm thức của các đứa trẻ về quê cha đất tổ. Đối với chúng tôi, quê cha đất tổ là Nghệ An - nơi sinh ra bố tôi, chứ không phải Điện Biên - nơi sinh ra tôi.

Vấn đề đặt ra là thế hệ tiếp theo: năm nay con trai tôi sinh cháu trai. Như trên đă nói, con tôi sinh ra ở Hà Nội và trong Giấy khai sinh của con tôi ghi nơi sinh là Hà Nội, nguyên quán là Nam Đàn, Nghệ An. Đối với họ hàng tôi, cháu bé mới ra đời là chắt “đích tôn”. Trong Giấy khai sinh cho đứa chắt này ghi nguyên quán là Nam Đàn, Nghệ An (nơi sinh của cụ nội đứa trẻ), hay ghi nguyên quán là Điện Biên (nơi sinh ra tôi và tôi chỉ ở đó 4 tháng) hay ghi nguyên quán là Hà Nội (nơi vợ chồng tôi thường trú và sinh ra con trai, cũng là nơi con trai và con dâu tôi thường trú)?

Để trả lời câu hỏi này thật không đơn giản. Việc đầu tiên là tôi đi t́m nghĩa của từ nguyên quán. Theo Từ điển Tiếng Việt năm 2002 (do Hoàng Phê chủ biên) th́ nguyên quán là “Quê quán gốc” (Tr. 694) và quê quán là “Quê, về mặt là nơi gốc rễ của gia đ́nh, ḍng họ” (Tr. 810). Như vậy, theo cách giải nghĩa trong Từ điển Tiếng Việt th́ nguyên quán của đứa trẻ phải ghi là Nam Đàn, Nghệ An. Chắc chắn ḍng họ nhà tôi hài ḷng. Quê cha đất tổ là nơi sinh sống của nhiều thế hệ, là nơi phát tích của một ḍng họ cần được lưu truyền bằng cách ghi vào mục nguyên quán trong giấy khai sinh của mỗi người.

Có ư kiến cho rằng kể từ khi nhà nước thực hiện chính sách kế hoạch hoá gia đ́nh, trong ḍng họ người Việt không c̣n nhiều chi, nhiều nhánh nữa. Mỗi gia đ́nh thường chỉ có một con trai và nếu người con trai đó lớn lên rời quê đi sinh sống ở nơi khác th́ các thế hệ tiếp theo khó mà quay trở lại quê cha đất tổ. V́ vậy, mục nguyên quán trong giấy khai sinh của mỗi người cần ghi theo nơi sinh của người cha để dễ thực hiện việc quản lư nhà nước. Nghe th́ thấy có lư nhưng suy nghĩ kỹ tôi vẫn cho rằng không nên ghi theo nơi sinh v́ nhiều người cha sinh ra một nơi nhưng sống và làm việc lâu dài ở nơi khác. Trường hợp này có thể ghi theo nơi thường trú của người cha. Trước sau tôi vẫn cho rằng mục nguyên quán nên ghi theo quê cha đất tổ lâu đời. Điều này sẽ thuận lợi cho việc truy t́m và lưu giữ gia phả của mỗi ḍng họ - một nhu cầu tinh thần thiêng liêng mang tính truyền thống của người Việt.

Gần đây, trên báo Tuổi trẻ có đăng bài “Tôi đi chỉnh giấy khai sinh cho con” (số ra ngày 05/01/2006), tác giả Hồ Thị Thanh Huyền cho biết, ngày 5/12/2005 chị đến Sở Tư pháp TP.Hồ Chí Minh để chỉnh sửa giấy khai sinh cho con v́ giấy khai sinh cũ của con đă ghi theo nguyên quán của ông nội là Quảng Nam, trong khi mới có quy định nguyên quán phải ghi theo nơi sinh của cha cháu bé là TP.Hồ Chí Minh. Và chị cho biết là gặp không ít thủ tục hành chính phiền hà trong việc chỉnh sửa giấy khai sinh.

Từ những việc nhỏ nhưng rất quan trọng như vậy, thiết nghĩ, trong các Nghị định (là các văn bản dưới luật) nên có quy định cụ thể để các địa phương áp dụng thống nhất. Nên tránh t́nh trạng văn bản dưới luật lại phải chờ có văn bản hướng dẫn rồi mới thực hiện được.

 

Ts. Lê Quốc Hùng - theo Tạp chí nghiên cứu lập pháp



Các bài mới trong mục này 

Chênh nhau 40 - 50 tuổi vẫn kết hôn “vô tư“?, [19-12-2011]
Giải quyết hộ tịch, quốc tịch vùng biên giới Việt nam - Lào, [15-07-2011]
Thu hồi nhà cho người thu nhập thấp bán trao tay , [06-07-2011]
“Đỏ mắt” chờ sổ đỏ, [06-07-2011]
Một số sai sót thường gặp trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phương, [31-05-2011]
Một số vấn đề về kê biên phần vốn góp theo điều 92 Luật thi hành án dân sự năm 2008, [31-05-2011]
Khái quát thực tiễn công tác đăng kư giao dịch bảo đảm bằng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền v̕, [31-05-2011]
Phương hướng cải cách thủ tục đăng kư kinh doanh , [19-05-2011]
Thủ tục chuyển nhượng cổ phần trong công ty cổ phần Việt Nam, [19-05-2011]
Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính, [20-04-2011]
Các bài khác »
Disclaimer: The above information are collected from various sources in internet.We will not be liable for indirect, special, or consequential damages (or any loss of revenue, profits, or data) arising in connection with these news. We are not news publisher or editor.

 

Pháp điển Luật Việt nam
Bạn đọc thân mến

Đây không phải là trang báo điện tử. Tin bài được sưu tầm từ các nguồn khác nhau chỉ nhằm phục vụ việc nghiên cứu và tham khảo.

T́m hiểu thêm
    bottom_e.htm




1998-2011 © Vietlawconsultants.com and Vietlaw.biz / Disclaimer

Sitemap / Sơ đồ Website Phần tiếng Việt / Staff / Email