top
   
 

 
left_vietnamese.htm
Giới thiệu

VPLS Hải Hà

Lĩnh vực hoạt động

Thành viên VLC

Biểu phí / Thanh toán

Liên lạc với chúng tôi !

Tuyển dụng

Q & A

Pháp điển Luật Việt nam
Luật Việt nam

Tin pháp luật

Nghiên cứu - Binh lụận

Thực tiễn hành chính

Thực tiễn xét xử

Giải quyết tranh chấp

Luật quốc tế

Dân sự có yếu tố nước ngoài

Thương mại quốc tế

Điều ước quốc tế

Pháp và Liên minh Châu Âu

Chuyên mục

Hợp đồng

Sở hữu trí tuệ

Thuật ngữ luật

  
Từ bắt đầu bằng
Từ đầy đủ

Nghiên cứu


Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
16-11-2004

TS. Phùng Trung Tập

Trường đại học Luật Hà Nội

 

Lỗi hiểu theo góc độ luật học, từ xưa đến nay có nhiều học giả, trong đó có các luật gia đă quan tâm nhận xét rất khác nhau trong việc xác định yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự nói chung và trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng nói riêng. Có nhiều quan điểm khác nhau trong nhận thức về yếu tố lỗi nhưng nh́n chung các học giả đều thừa nhận lỗi được biểu hiện dưới hai h́nh thức cố ư và vô ư. Các học giả c̣n phân biệt mức độ lỗi trong h́nh lỗi vô ư gồm lỗi vô ư nặng và lỗi vô ư nhẹ. Trong bài viết này, chúng tôi không bàn luận yếu tố lỗi trong tất cả các quan hệ pháp luật dân sự có tranh chấp, mà chỉ bàn về yếu tố lỗi trong một số loại trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng với mục đích đáp ứng phần nào cách nh́n nhận về yếu tố lỗi trong việc xác định trách nhiệm dân sự.

 

1. Hành vi có lỗi

 

Hành vi có lỗi, theo quy định tại Điều 309 BLDS th́ "Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, th́ phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ư hoặc lỗi vô ư, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác:. Khoản 1 Điều 309 nói trên quy định lỗi do hành vi không thực hiện nghĩa vụ dân sự th́ người có hành vi đó bị coi là có lỗi. Theo quy định của khoản 2 Điều 309 BLDS th́ nội dung của khoản này có ư nghĩa viện dẫn trực tiếp trong việc xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. Khoản 2 Điều 309 quy định: "Cố ư gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rơ hành vi của ḿnh sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra".

 

Về mặt khách quan, quy định trên đă dự liệu trường hợp người gây thiệt hại nhận thức rơ hành vi của ḿnh sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vấn thực hiện, cho dù người đó mong muốn hoặc không mong muốn nhưng đă có thái độ để mặc cho thiệt hại xảy ra th́ người đó phải chịu trách nhiệm dân sự về hành vi có lỗi cố ư của ḿnh.

 

Về măt chủ quan, người gây thiệt hại khi thực hiện hành vi gây hại luôn nhằm mục đích có thiệt hại xảy ra cho người khác và được thể hiện dưới hai mức độ:

 

- Mong muốn có thiệt hại xảy ra.

- Không mong muốn có thiệt hại, nhưng lại để mặc cho thiệt hại xảy ra.

 

Mức độ thể hiện ư chí- hành vi của người cố ư gây thiệt hại trong trường hợp người đó nhận thức rơ hành vi của ḿnh sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện, th́ phải chịu trách nhiệm dân sự do lỗi cố ư là nguyên nhân của thiệt hai.

 

Theo nội dung khoản 2 điều 309 BLDS, chúng tôi thấy cần thiết phải làm rơ những quan hệ và yếu tố có liên quan đến phạm vi lỗi của người gây thiệt hại.

 

Một người nhận thức rơ hành vi của ḿnh sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại đó xảy ra th́ lỗi của người gây thiệt hại là lỗi cố ư. Những yếu tố liên quan đến h́nh thức lỗi cố ư gây thiệt hại được thể hiện ở những mức độ khác nhau, do biểu lộ ư chí của chủ thể đă là yếu tố quyết định h́nh thức lỗi.

 

Khi xác định lỗi cố ư gây thiệt hại ngoài hợp đồng, cần phải phân biệt với những hành vi gây thiệt hại khác, không thuộc hành vi do lỗi cố ư hoặc vô ư gây ra. Đó là hành vi gây thiệt hại được xác định là sự kiện bất ngờ. Sự kiện bất ngờ được qui định tại Điều 11 Bộ luật H́nh sự của nước Cộng ḥa xă hội chủ nghĩa Việt Nam được dẫn chiếu v́ điều luật này không những được áp dụng trong lĩnh vực luật h́nh sự, mà c̣n có ư nghĩa trực tiếp trong việc xác định trách nhiệm dân sự do gây thiệt hại ngoài hợp đồng. Sự kiện bất ngờ được hiểu là sự kiện pháp lư nhưng hậu quả của nó không làm phát sinh trách nhiệm dân sự của người có hành vi tạo ra sự kiện đó. Một sự kiện pháp lư có đủ các ưếu tố sau đây sự kiện bất ngờ:

HÀNH VI GÂY THIỆT HẠI

THIỆT HẠI

KHÔNG THUỘC HÀNH VI TRÁI PHÁP LUẬT

NGƯỜI GÂY THIỆT HẠI KHÔNG CÓ LỖI


Mối liên hệ giữa các yếu tố trên không thể làm phát sinh TNDS ngoài hợp đồng do thiếu yếu tố lỗi của người gây thiệt hại và hành vi gây thiệt hại không phải là hành vi trái pháp luật. Không có mối quan hệ nhân qủa giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại. Nói các khác, người có hành vi liên quan đến thiệt hại không phải là người gây thiệt hại do nhận thức rơ hành vi của ḿnh sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện, đồng thời người có hành vi đó không thể hiện ư chí mong muốn hoặc không mong muốn nhưng để mặc thiệt hại xảy ra cho người khác. Như vậy, người có hành vi thuộc trường hợp bất ngờ th́ hành vi của người đó không có lỗi tồn tại ở h́nh thức này hay hay h́nh thức kia, ở mức độ này hay mức độ khác. Theo qui định của pháp luật, th́ người có hành vi đó không chịu trách nhiệm dân sự.

 

Khi xác định và phân tích yếu tố lỗi trong trách nhiệm dân sự (TNDS) ngoài hợp đồng, cần thiết phảiỉ đặt yếu tố đó trong mối liên hệ với những sự kiện pháp lư khác, mà rơ nét hơn cả là sự biến pháp lư tuyệt đối và sự biến pháp lư tương đối là những căn cứ làm phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật dân sự. Sự biến pháp tương đối là một sự kiện pháp lư mà sự  khởi phát của nó do hành vi của con người tác động dưới h́nh thức lỗi vô ư, do vậy người có hành vi tạo ra sự kiện đó phải bồi thường thiệt hại theo nguyên tắc bồi thường toàn bộ thiệt hại. Trong khoa học pháp lư các nhà luật học đều thừa nhận sự biến pháp lư tương đối là sự biến do con người tác động, c̣n sự thay đổi và chấm dứt của nó con người không kiểm soát được. Như vậy, hành vi tạo ra sự biến pháp lư tương đối là hành vi có lỗi và là hành vi trái pháp luật. Theo khoản 2 Điều 309 BLDS. lỗi vô ư được xác định là "trường hợp một người không thấy trước hành vi của ḿnh có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước thiệt hại sẽ xảy ra hoặc thấy trước hành vi của ḿnh có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được". Người gây thiệt hại đă không mong muốn, không để mặc cho thiệt hại xảy ra mà là do không kiểm soát được diễn biến của sự kiện do hành vi vô ư của ḿnh tạo ra th́ người có hành vi đó phải bồi thường.

 

Khi xác định, phân tích sự biến pháp lư chúng tôi muốn làm rơ sự biến pháp lư tuyệt đối không chứa đựng yếu tố lỗi dưới bất kỳ h́nh thức nào. Bởi v́ theo nhận thức của các nhà nghiên cứu luật học về mặt lư luận, th́ sự biến pháp lư tuyệt đối là sự biến của một sự kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt không phụ thuộc vào ư thức của con người - ư thức của con người không kiểm soát được sự kiện đó. Sự biến pháp lư tuyệt đối có ư nghĩa pháp lư đặc thù, bởi v́ sự biến đó được đặt trong mối liên hệ về không gia và thời gian cụ thể, theo đó trách nhiệm dân sự không phát sinh đối với một hoặc hai bên chủ thể của quan hệ đó. Như vậy, có thể nhận định rằng lỗi vô ư luôn tồn tại trong sự biến pháp lư tương đối, c̣n lỗi thuộc mọi h́nh thức không thể tồn tại trong sự biến pháp lư tuyệt đối. Sự nhận thức trên có ư nghĩa về mặt lư luận trong việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

 

Đoạn cuối Điều 621 BLDS qui định trách nhiệm hỗn hợp nhưng trách nhiệm hỗn hợp được loại trừ "nếu thiệt hại xảy ra hoàn ṭan do lỗi của người bị thiệt hại, th́ người gây thiệt hại không phải bồi thường". Theo qui định trên, h́nh thức lỗi của người bị thiệt hại không cần phải xác định, mà lỗi hiểu theo nghĩa "hoàn ṭan" thuộc về người bị thiệt hại. Áp dụng qui định này trong việc giả quyết việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phù hợp với hoàn cảnh luật định, th́ c̣n cần phải làm rơ những vấn đề sau đây:

 

Thứ nhất, thiệt hại xảy ra hoàn ṭan do lỗi của người bị thiệt hại, th́ người gây thiệt hại không phải bồi thường. Lỗi của người bị thiệt hại có thể do vố ư hoặc cố ư nhưng phải xác định được lỗi đó hoàn toàn thuộc về người bị thiệt hại, theo đó người gây thiệt hại phải là người hoàn toàn không có lỗi thuộc h́nh thức này hay h́nh thức khác, ở mức độ này hay ở mức độ khác th́ người có đó không phải bồi thường. Người gây thiệt phải chứng minh được là ḿnh hoàn toàn không có lỗi, mà lỗi hoàn toàn thuộc về phía người bị gây thiệt hại. Mối quan hệ nhân qủa giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại xảy ra luôn luôn xác định được trong một thiệt hại cụ thể. Nhưng trách nhiệm pháp lư có phát sinh ở người có hành vi gây thiệt hại hay không c̣n tùy thuộc vào sự kiện xảy ra hoàn ṭan hay không hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại để có cơ sở quy trách nhiệm dân sự cho người có hành vi gây thiệt hại. Nếu người gây thiệt hại, th́ mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ lỗi của ḿnh.

 

Thứ hai, trong BLDS năm 1995 của nước CHXHCN Việt Nam khong có điều luật nào qui định về mức độ lỗi, àm chỉ qui định tại Điều 309 về hai h́nh thức lỗi cố ư và lỗi vô ư. Việc áp dụng hai h́nh thức lỗi cố ư và lỗi vô ư. Việc áp dụng Điều 621 BLDS trong việc giải quyết trách nhiệm dân sự hỗn hợp được dựa trên mức độ lỗi như thế nào. Lỗi không tự nó có vị trí độc lập với các yếu tố khác trong việc xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng. H́nh thức lỗi cũng không phải là không thể xác định. Theo nguyên tắc chung của trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, th́ h́nh thức lỗi nếu xét về người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại không ảnh hưởng tới mức độ và trách nhiệm bồi thường của người đó. Người gây thiệt hại dù có lỗi cố ư hay có lỗi vô ư khi gây thiệt hại cho người khác th́ người đó cũng phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do hành vi có lỗi của ḿnh gây ra. Không v́ người gây thiệt hại có lỗi vô ư hoặc cố ư trong khi gây thiệt hại mà mức bồi thường tăng hay giảm tương ứng. Tuy nhiên, trong những trường hợp cá biệt có điều kiện luật định, th́ người gây thiệt hại ngoài hợp đồng có thể được miễn giảm mức bồi thường (do Ṭa án xem xét quyết định). Những trường hợp phổ biến trong việc miễn giảm mức bồi thường cho người gây thiệt hại thường phát sinh trong các trường hợp sau đây:

 

- Người gây thiệt hại có lỗi vô ư và thiệt hại xảy ra quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của ḿnh (Khoản 2 điều 610);

- Người gây thiệt hại và người bị thiệt hại thỏa thuận với nhau về mắc bồi thường thấp hơn thiệt hại.

 

Trường hợp thứ nhất, pháp luật qui định người gây tiệt hại bồi thường thấp hơn thiệt hại do hành vi vô ư và thiệt hại xảy ra quá lớn so với điều kiện bồi thường của người gây thiệt hại. Qui định này đă loại trừ người gây thiệt hại có lỗi cố ư và pháp luật không qui định xem xét để giảm mức bồi thường. Tuy nhiên trong trường hợp người gây thiệt hại có lỗi cố ư nhưng có sự thỏa thuận với người bị thiệt hại về mức bồi thường thấp hơn thiệt hại, nếu thỏa thuận đó không trái pháp luật và đạo đức xă hội và được Ṭa án thừa nhận, th́ người gây thiệt hại do lỗi cố ư được miễn giảm phần bồi thường thiệt hại do ḿnh gây ra, thuộc về trường hợp thứ hai.

 

Thứ ba, Điều 621 BLDS qui định về trách nhiệm hỗn hợp trong trường hợp người bị thiệt hại cũng có lỗi trong việc gây thiệt hại, th́ người gây thiệt hại chỉ phải bồi thường tương ứng với mức độ lỗi của ḿnh. Trong BLDS của nước CHXHCN Việt nam không có qui định về mức độ lỗi, di vậy việc xác định trách nhiệm hỗn hợp trong trường hợp cả người gây thiệt hại và người bị thiệt hại đều có lỗi gây ra thiệt hại th́ mỗi bên phải chịu trách nhiệm dân sự tương ứng với mức độ lỗi của ḿnh. Mức độ lỗi trong trường hợp này được xác định dựa trên những cơ sở lư luận pháp luật h́nh sự trong việc phân biệt mức độ lỗi vô ư v́ quá cẩu thả, vô ư v́ quá tự tin của một người mà gây ra thiệt hại th́ tương ứng với nó mức bồi thường thiệt hại có khác nhau. Như cách đặt vấn đề ở phần đầu bài viết này, th́ lỗi phản ánh yếu tố tâm lư của con người, có tác động trực tiếp đến hành vi của người đó và thiệt hại xảy ra do hành vi vô ư v́ cẩu thả, vô ư v́ quá tự tin mà gây ra thiệt hại đă phản ánh yếu tố tâm lư chủ quan của người đó. Việc xác định trách nhiệm hỗn hợp căn cứ vào mức độ lỗi của mỗi bên đă có tính thuyết phục, bởi tính hợp lư của cách xác định đó. Qua phânt ích trên, chúng tôi đă loại trừ trường hợp cả người bị thiệt hại và người gây thiệt hại đều có lỗi cố ư trong việc gây thiệt hại, mong muốn thiệt hại xảy ra cho nhau và cho chính bản thân ḿnh.

 

Khi phân tích yếu tố lỗi trong trách nhiệm bồi thương thiệt hại ngoài hợp đồng cần thiết phải hiểu rơ quy định tại Điều 621 BLDS: "Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại, th́ người gây thiệt hại không phải bồi thường".

 

Hiểu như thế nào về trường hợp người bị thiệt hoàn ṭan có lỗi, và lỗi đó là lỗi vô ư hay cố ư. Mối liên hệ giữa lỗi vô ư của người gây thiệt hại và lỗi cố ư của người bị thiệt hại có ảnh hưởng như thế nào đến việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các bên? Giải đáp những vấn đề nêu ra ở trên, cần tuân theo những nguyên tắc sau đây:

 

a. Nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi đó là vô ư hay cố ư, mà người gây thiệt hại hoàn toàn không có lỗi th́ người gây thiệt hại không phải bồi thường. Trường hợp này phù hợp với việc gây tiệt hại trong t́nh thuống bát ngờ.

 

b. Người gây thiệt hại có lỗi vô ư và người bị thiệt hại cũng có lỗi vô ư trong việc gây ra thiệt hại th́ trách nhiệm này là trách nhiệm hỗn hợp.

 

c. Người gây thiệt hại có lỗi vô ư, người bị thiệt hại có lôi cố ư th́ người gây thiệt hại không phải bồi thường.

 

Như vậy, thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại cho dù lỗi đó có ở h́nh thức này hay h́nh thức khác, ở mức độ này hay mức độ khác th́ người gây thiệt hại không có trách nhiệm bồi thường.

 

2. Trách nhiệm bồi thường

 

Từ cơ sở lư luận, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng phải thỏa măn bốn điều kiện: Có thiệt hại xảy ra; có hành vi trái pháp luật; có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi trái pháp luật và thiệt hại; người gây thiệt hại có lỗi.

 

Khi nhận thức về lỗi, có nhiều quan điểm khác nhau, có quan điểm cho rằng lỗi trong trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng phải do pháp luât qui định về h́nh thức và mức độ. Nhưng cũng có quan điểm lại cho rằng; lỗi trong trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng c̣n do suy đoán. Tuy nhiên, hai quan điểm khác nhau trong việc nhận thức về lỗi vẫn tồn tại, chúng tôi thấy cần thiết phải làm rơ vấn đề này để có sự thống nhất trong việc nhận thức về lỗi và do pháp luật qui định trước hay do suy đoán mà có?

 

Điều 309 BLDS xác định rất rơ về lỗi và h́nh thức lỗi trong trách nhiệm dân sự. Khoản 1 Điều 309 qui định: "Người không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự, th́ phải chịu trách nhiệm dân sự khi có lỗi cố ư hoặc lỗi vô ư, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có qui định khác."

 

Như vậy, trong trách nhiệm dân sự nói chung, điều kiện lỗi không thể thiếu được trong việc xác định trách nhiệm dân sự. Hơn nữa, tại khoản 2 điều 309 BLDS đă qui định rất rơ về h́nh thức lỗi, nó vừa có ư nghĩa làm rơ khoản 1, đồng thời nội dung của nó cũng giải thích làm rơ lỗi là ǵ. cơ sở để xác định lỗi, h́nh thức lỗi, theo chúng tôi đều do pháp luật qui định trước, mà không thể do suy đoán. Bởi v́, lỗi "cố ư gây thiệt hại là trường hợp một người nhận thức rơ hành vi của ḿnh sẽ gây thiệt hại cho người khác mà vấn thực hiện và mong muốn hoặc không mong muốn, nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra". Và lỗi "vô ư gây thiệt hại là trường hợp một người không thấy trước hành vi của ḿnh có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể trước hành vi của ḿnh có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được".

 

Như vậy, đă quá rơ ràng rằng lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do pháp luật qui định cả về cơ sở xác định lỗi, cả về h́nh thức lỗi. Từ những cơ sở pháp lư trên, có thể nhận định lỗi trong trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không phải là do suy đoán, mà do pháp luật qui định trước. Khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợpđồng, cần phải xác định yếu tố lỗi để có căn cứ qui trách nhiệm cho người có hành vi trái pháp luật - người có hành vi có lỗi phải bồi thường thiệt hại. Bên cạnh đó, cũng cần phải phân biệt những trách nhiệm dân sự liên quan đến những quan hệ dân sự và những chủ thể nhất định của quan hệ dân sự đó và trách nhiệm dân sự của chủ thể, Như vậy, không cần thiết phải đưa ra quan điểm trong việc nhận thức về lỗi trong trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là do suy đoán. Nhận thức như trên không chuẩn xác về mặt khoa học, bởi v́ lỗi, h́nh thức lỗi đă được qui định rất rơ và đầy đủ tại Điều 309 BLDS. Những suy diễn ngoài nội dung Điều 309 BLDS, do vậy không cần thiết và cũng không đúng.

 

Bàn về lỗi - một điều kiện xác định trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng là cần thiết. V́ đối với ngành Toà án khi giải quyết những tranh chấp liên quan đến trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, cần thiết phải hiểu rơ cơ sở lư luận về lỗi để áp dụng chuẩn xác các qui phạm pháp luật về trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng, qua đó đưa ra những nhận định và quyết định chuẩn xác, đúng pháp luật



Các bài mới trong mục này 

Phân định thẩm quyền trong tố tụng h́nh sự Việt Nam, [05-09-2011]
Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa Việt Nam, [05-09-2011]
Sáu vấn đề cảnh báo sai phạm về bán đấu giá tài sản và các giải pháp pḥng ngừa, [15-07-2011]
Trẻ em được sinh ra ở nước ngoài: Có nên công nhận quốc tịch VN?, [05-07-2011]
Sự cần thiết của việc hợp nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, [31-05-2011]
Góp ư sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự năm 2005: di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực khi nào?, [31-05-2011]
Thực tiễn thi hành và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đối với các quy định của Luật Đất đ, [31-05-2011]
Một số kinh nghiệm pháp luật của Cộng ḥa Pháp liên quan đến cấu trúc Bộ luật Dân sự, tài sản và sở hữu , [31-05-2011]
Thực hiện các quy định của pháp luật về kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức và một vài kiến nghị , [02-05-2011]
Vai tṛ của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra h́nh sự, [02-05-2011]
Các bài khác »
Disclaimer: The above information are collected from various sources in internet.We will not be liable for indirect, special, or consequential damages (or any loss of revenue, profits, or data) arising in connection with these news. We are not news publisher or editor.

 

Pháp điển Luật Việt nam
Bạn đọc thân mến

Đây không phải là trang báo điện tử. Tin bài được sưu tầm từ các nguồn khác nhau chỉ nhằm phục vụ việc nghiên cứu và tham khảo.

T́m hiểu thêm
    bottom_e.htm




1998-2011 © Vietlawconsultants.com and Vietlaw.biz / Disclaimer

Sitemap / Sơ đồ Website Phần tiếng Việt / Staff / Email