top
   
 

 
left_vietnamese.htm
Giới thiệu

VPLS Hải Hà

Lĩnh vực hoạt động

Thành viên VLC

Biểu phí / Thanh toán

Liên lạc với chúng tôi !

Tuyển dụng

Q & A

Pháp điển Luật Việt nam
Luật Việt nam

Tin pháp luật

Nghiên cứu - Binh lụận

Thực tiễn hành chính

Thực tiễn xét xử

Giải quyết tranh chấp

Luật quốc tế

Dân sự có yếu tố nước ngoài

Thương mại quốc tế

Điều ước quốc tế

Pháp và Liên minh Châu Âu

Chuyên mục

Hợp đồng

Sở hữu trí tuệ

Thuật ngữ luật

  
Từ bắt đầu bằng
Từ đầy đủ

Nghiên cứu


Chính sách cổ tức
22-08-2005

 

( source: VNECONOMY )

Khi giá trị doanh nghiệp được nâng cao, cổ phiếu của doanh nghiệp đó sẽ trở nên đắt giá hơn

Một trong những “niềm hi vọng” lớn nhất của cổ đông là nhận được mức cổ tức cao. Tuy nhiên, mức cổ tức cao chưa hẳn đă là dấu hiệu của một doanh nghiệp ăn nên làm ra.

Một chính sách cổ tức cao không hợp lư sẽ không khác ǵ một cái “máy vắt sữa” vắt kiệt nguồn vốn mà doanh nghiệp cần để tái đầu tư.

Chính sách cổ tức – phương tiện để “đánh bóng” h́nh ảnh?

Hầu hết các nhà đầu tư khi rót vốn vào một công ty cổ phần thông qua mua cổ phần hoặc mua cổ phiếu trên thị trường chứng khoán đều nh́n vào mức cổ tức mà công ty đó trả. Đó là tâm lư dễ hiểu của những cổ đông đầu tư ngắn hạn, coi việc mua cổ phần tương tự như gửi tiền tiết kiệm.

Do vậy, mức cổ tức thường được so sánh với mức lăi tiết kiệm hay lăi suất trái phiếu. Một mức cổ tức cao dễ tạo tâm lư “đầu tư có lợi”.

Tâm lư này thể hiện rơ nhất trong Đại hội cổ đông của công ty, nơi các cổ đông đặt ra mục tiêu với Hội đồng quản trị. Cổ tức là phần chia từ lợi nhuận cho các cổ đông, sau khi trừ đi các nghĩa vụ với nhà nước và trích lập các quỹ theo quy định trong điều lệ công ty. Mức cổ tức cao như vậy dễ đồng nghĩa với mức lợi nhuận cao. Một doanh nghiệp trả cổ tức cao cũng được coi là một doanh nghiệp “ăn nên làm ra” và Hội đồng quản trị có năng lực.

Theo một nghiên cứu của Bộ Tài chính về hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần hóa, mức cổ tức trả bằng tiền mặt thường cao hơn lăi suất ngân hàng, khoảng 12%/năm. Đây thực sự là sức ép rất lớn cho ban quản trị doanh nghiệp.

Đối với các doanh nghiệp niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, mức cổ tức cũng là một “quả cân có sức nặng” trong quyết định mua bán của nhà đầu tư mới, đặc biệt là các nhà đầu tư ngắn hạn, ngoài các đánh giá về tiềm năng tăng, giảm giá cổ phiếu. Đối với những nhà đầu tư này, nắm giữ cổ phiếu trong khi chưa có cơ hội bán ra để hưởng chênh lệch giá th́ việc hưởng cổ tức hoàn toàn giống gửi tiền tiết kiệm. Mức cổ tức càng cao th́ nhà đầu tư càng có lợi. Một cổ phiếu có mức cổ tức không cao thường bị  thị trường đánh giá thấp và tính thanh khoản kém.

Chính cách đánh giá “dắt dây” này đă biến chính sách cổ tức ở không ít doanh nghiệp trở thành công cụ để đánh bóng h́nh ảnh. Trường hợp này thậm chí c̣n khá phổ biến ở các doanh nghiệp mới cổ phần hóa. Hội đồng quản trị ở các doanh nghiệp này mong muốn trả một mức cổ tức cao để tạo cảm giác “hoạt động hiệu quả”, tạo tâm lư an toàn trong người lao động và cổ đông.

Để có mức cổ tức cao, thậm chí doanh nghiệp phải chia hết cả lợi nhuận thu được, “quên” cả việc dự pḥng tài chính cho các khoản nợ ngắn hạn.

Mức cổ tức cao đương nhiên cổ đông được hưởng lợi, nhưng c̣n tiềm năng phát triển dài hạn của doanh nghiệp? Đối với một doanh nghiệp “rỗng túi” th́ cơ hội tăng trưởng là rất thấp, thậm chí bị gánh nặng nợ nần. Hiện nay cũng chưa có tiền lệ hay quy định nào “xử lư” các hội đồng quản trị sử dụng cổ tức như một cách thức để xoa dịu cổ đông trong khi công ty kinh doanh kém hiệu quả.

Lợi nhuận giữ lại – Nguồn vốn để tái đầu tư

Một nghịch lư đối với các công ty cổ phần ở Việt Nam là phải “thỏa măn” nhu cầu cổ tức cao trong khi lại thiếu vốn đầu tư phát triển. Nguồn vốn của một doanh nghiệp bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay. Hầu hết các doanh nghiệp hiện nâng vốn thông qua việc nâng vốn vay, thường bằng cách vay ngân hàng (việc phát hành trái phiếu doanh nghiệp rất hiếm).

Đây là một cách thức không an toàn, thậm chí có thể biến doanh nghiệp thành “con nợ”. Doanh nghiệp sẽ phải chịu áp lực lăi suất rất lớn

Phần lớn các doanh nghiệp cổ phần ở Việt Nam đều có “xuất xứ” từ doanh nghiệp nhà nước. Việc cổ phần hóa cũng thường tiến hành với các doanh nghiệp yếu kém hoặc có nguy cơ phá sản với ư nghĩa cải cách điều hành, vực dậy doanh nghiệp. Chính trong hoàn cảnh đó, đáng lẽ doanh nghiệp phải đẩy mạnh quá tŕnh tích lũy vốn để tăng giá trị doanh nghiệp và thực hiện tái đầu tư mở rộng th́ hầu hết doanh nghiệp lại đem lợi nhuận thu được chia cho cổ đông.

Đối với các doanh nghiệp cổ phần đă niêm yết và chưa niêm yết, việc nâng vốn chủ sở hữu có thể được tiến hành bằng nhiều cách, trong đó có cách phát hành cổ phiếu mới. Tuy nhiên, cách này sẽ phát sinh chi phí, thông thường từ 5-10% tổng giá trị đợt phát hành. Trong khi đó, việc tăng vốn chủ sở hữu bằng cách giữ lại một phần hay toàn bộ lợi nhuận hầu như không tốn chi phí. Vướng mắc duy nhất có lẽ là làm sao đạt được sự đồng thuận của cổ đông.

Một điều đáng lưu ư là lâu nay việc chia cổ tức thường được quan niệm là chia bằng tiền mặt. Điều này cũng dễ hiểu v́ cổ đông luôn ưa thích “tiền tươi thóc thật”. Thực tế có nhiều cách trả cổ tức khác như trả bằng cổ phiếu hoặc trả bằng tài sản khác. Trả cổ tức bằng tiền làm hao hụt nguồn tiền mặt của doanh nghiệp trong khi trả cổ tức bằng cổ phiếu chỉ là phân chia cổ phần bổ sung cho các cổ đông theo tỷ lệ nào đó. Doanh nghiệp không nhận được tiền thanh toán từ cổ đông nhưng cung không mất tiền chi trả cổ tức. Việc trả cổ tức bằng tiền mặt phổ biến c̣n do thu nhập từ cổ tức chưa bị đánh thuế.

Cổ đông của một doanh nghiệp thường bao gồm nhà đầu tư ngắn hạn và nhà đầu tư chiến lược. Nhà đầu tư chiến lược luôn có xu hướng nắm giữ lâu dài cổ phiếu và sẵn sàng hi sinh lợi nhuận ban đầu (cổ tức) để dành vốn đầu tư phát triển doanh nghiệp và hưởng những giá trị nâng cao trong tương lai. Trong khi đó, nhà đầu tư ngắn hạn không có ư định gắn bó lâu dài với doanh nghiệp nên muốn được chia cổ tức cao và có xu hướng bán cổ phiếu ra khi được giá.

Không thể đánh giá thấp nhà đầu tư nào, dù là ngắn hạn hạn hay dài hạn v́ chính nhà đầu tư ngắn hạn tạo ra tính thanh khoản cho cổ phiếu và làm cho thị trường chứng khoán sôi động. Tuy nhiên, xét từ góc độ doanh nghiệp, nhà đầu tư dài hạn đóng vai tṛ quan trọng trong chính sách cổ tức. Việc phân chia lợi nhuận như thế nào được quyết định tại Đại hội cổ đông, nơi nhà đầu từ chiến lược có tiếng nói quan trọng.

Bản thân việc chia cổ tức cũng có nghĩa là cổ đông ngồi lại bàn bạc và xác định lợi nhuận sẽ được phân chia như thế nào. Vấn đề quan trọng là phân chia lợi nhuận phải phù hợp với t́nh h́nh kinh doanh và phát triển. Nếu doanh nghiệp cần vốn đầu tư, đặc biệt trong trường hợp các doanh nghiệp mới, đang phát triển, th́ tăng phần lợi nhuận giữ lại, chia cổ tức ít. Khi doanh nghiệp đă phát triển ổn định th́ nâng mức cổ tức lên cao, thậm chí rất cao.

Việc căn cứ mức cổ tức để đánh giá giá trị cổ phiếu chỉ mang tính nhất thời. Sau khi doanh nghiệp phát triển tốt giá trị được nâng cao th́ giá trị cổ phiếu c̣n tăng cao hơn. Một ví dụ tiêu biểu là hăng Microsoft trong suốt một thời gian dài không trả cổ tức nhưng hầu hết các cổ đông nắm giữ cổ phiếu công ty này đă trở thành triệu phú.



Các bài mới trong mục này 

Phân định thẩm quyền trong tố tụng h́nh sự Việt Nam, [05-09-2011]
Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa Việt Nam, [05-09-2011]
Sáu vấn đề cảnh báo sai phạm về bán đấu giá tài sản và các giải pháp pḥng ngừa, [15-07-2011]
Trẻ em được sinh ra ở nước ngoài: Có nên công nhận quốc tịch VN?, [05-07-2011]
Sự cần thiết của việc hợp nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, [31-05-2011]
Góp ư sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự năm 2005: di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực khi nào?, [31-05-2011]
Thực tiễn thi hành và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đối với các quy định của Luật Đất đ, [31-05-2011]
Một số kinh nghiệm pháp luật của Cộng ḥa Pháp liên quan đến cấu trúc Bộ luật Dân sự, tài sản và sở hữu , [31-05-2011]
Thực hiện các quy định của pháp luật về kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức và một vài kiến nghị , [02-05-2011]
Vai tṛ của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra h́nh sự, [02-05-2011]
Các bài khác »
Disclaimer: The above information are collected from various sources in internet.We will not be liable for indirect, special, or consequential damages (or any loss of revenue, profits, or data) arising in connection with these news. We are not news publisher or editor.

 

Pháp điển Luật Việt nam
Bạn đọc thân mến

Đây không phải là trang báo điện tử. Tin bài được sưu tầm từ các nguồn khác nhau chỉ nhằm phục vụ việc nghiên cứu và tham khảo.

T́m hiểu thêm
    bottom_e.htm




1998-2011 © Vietlawconsultants.com and Vietlaw.biz / Disclaimer

Sitemap / Sơ đồ Website Phần tiếng Việt / Staff / Email