top
   
 

 
left_vietnamese.htm
Giới thiệu

VPLS Hải Hà

Lĩnh vực hoạt động

Thành viên VLC

Biểu phí / Thanh toán

Liên lạc với chúng tôi !

Tuyển dụng

Q & A

Pháp điển Luật Việt nam
Luật Việt nam

Tin pháp luật

Nghiên cứu - Binh lụận

Thực tiễn hành chính

Thực tiễn xét xử

Giải quyết tranh chấp

Luật quốc tế

Dân sự có yếu tố nước ngoài

Thương mại quốc tế

Điều ước quốc tế

Pháp và Liên minh Châu Âu

Chuyên mục

Hợp đồng

Sở hữu trí tuệ

Thuật ngữ luật

  
Từ bắt đầu bằng
Từ đầy đủ

Nghiên cứu


PHÁT HÀNH VÀ CHẤP NHẬN HỐI PHIẾU
02-08-2005

 

        Pháp luật về thương phiếu thương mại xuất hiện từ lâu (khoảng cuối thế kỷ XI đầu thế kỷ XII) ở các nước Phương Tây, đáp ứng các yêu cầu tất yếu, khách quan xuất phát từ hoạt động thương mại. Và ngày nay, thương phiếu được xem là một công cụ tín dụng, một phương tiện thanh toán hữu hiệu trong hoạt động thương mại.

     Xuất phát từ vai tṛ kinh tế của thương phiếu, các nước đă chú trọng xây dựng một cách có hệ thống và tương đối cụ thể các quy phạm pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lư thuận lợi cho hoạt động của thương phiếu. Không chỉ dừng lại ở hệ thống pháp luật trong nước, trên phương diện quốc tế, pháp luật thương mại quốc tế cũng đ̣i hỏi phải có sự thống nhất về luật pháp liên quan đến thương phiếu, trong chừng mực có thể được, để bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của thương nhân cũng như để bảo đảm một cách hữu hiệu sự tồn tại và hoạt động của thương phiếu. Điển h́nh là Công ước Genève ngày 7 tháng 6 năm 1930 về Hối phiếu và Lệnh phiếu đă được kư kết[1].

     Từ đó đến nay, pháp luật thương mại quốc tế đă có rất nhiều các văn bản điều chỉnh các quan hệ xă hội phát sinh trong hoạt động thương phiếu. Hơn nữa, điều này nhằm đáp ứng với t́nh h́nh phát triển kinh tế thế giới nói chung.

     Ở Việt Nam, trong thời kỳ áp dụng cơ chế tập trung, bao cấp, Nhà nước can thiệp rất sâu trong hoạt động kinh tế. Các tổ chức kinh tế, công dân chưa được tự do kinh doanh; pháp luật kinh  doanh nói chung cũng như pháp luật thương mại chưa được chú trọng. Điều này chỉ thật sự được đổi mới và phát triển từ khi Đảng và Nhà nước chuyển hướng phát triển nền kinh tế nước ta theo cơ chế thị trường có sự quản lư của Nhà nước theo định hướng xă hội chủ nghĩa.

     Trong hoàn cảnh đó, thương phiếu và pháp luật thương phiếu chỉ được đề cập trong những năm gần đây: Luật Thương mại 1997, Pháp lệnh Thương phiếu được UBTVQH thông qua ngày 24/12/1999, có hiệu lực từ ngày 01/07/2000, và Nghị định số 32/NĐ-CP của Chính phủ ngày 05/7/2001 (sau đây gọi tắt NĐ 32) hướng dẫn chi tiết thi hành Pháp lệnh thương phiếu. Tuy nhiên, những văn bản pháp luật vừa nêu, theo chúng tôi, vẫn được coi là chưa đủ để có một môi trường pháp lư thuận tiện cho thương phiếu hoạt động.

     Trong phạm vi bài viết này, tác giả chỉ tập trung phân tích những vấn đề lư luận (A) của Hối phiếu và các điều kiện cần thiết cho việc kư phát hành, cho sự chấp nhận hối phiếu (B) theo quy định của pháp luật hiện hành.

A. Lư luận chung về Hối phiếu

I. Định nghĩa

      Hối phiếu theo quy định của pháp luật thương mại Việt nam (sau đây gọi tắt là HP): Đó là chứng chỉ có giá do người kư phát lập, yêu cầu người bị kư phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.

    Như vậy, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong quan hệ hối phiếu luôn tồn tại ba (3) chủ thể với vai tṛ, vị trí hoàn toàn khác nhau. Điều quan trọng là các quy định của pháp luật về HP chưa thể hiện rơ dựa trên cơ sở nào một người (người kư phát) ra lệnh hay yêu cầu một người (người bị kư phát) thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho một người (người thụ hưởng).

    Căn cứ vào quy định của pháp luật, mà cụ thể việc “thanh toán một số tiền nhất định” của người bị kư phát đối với người thụ hưởng theo yêu cầu (chính xác hơn là theo lệnh) của người kư phát, cho phép chúng ta suy đoán hai khả năng có thể xảy ra: hoặc việc “thanh toán một số tiền nhất định” của người bị kư phát nhằm thực hiện việc trả một khoản nợ của người này đối với người kư phát HP;  hoặc việc thanh toán số tiền đó là việc thực hiện cam kết mà người bị kư phát đă chấp nhận là người cho vay đối với người kư phát để thanh toán hối phiếu.

Để lư giải nguồn gốc của khoản nợ vừa nêu (giả thuyết thứ nhất) cũng như cơ sở để người kư phát ra lệnh cho người bị kư phát phải thanh toán một số tiền cho người thụ hưởng (giả thuyết thứ hai), chúng ta phải, một mặt xem xét phạm vi điều chỉnh của pháp luật thương phiếu, mặt khác nghiên cứu cơ chế hoạt động của quan hệ HP để xác định đúng đắn bản chất pháp lư của mối quan hệ này.

Pháp lệnh thương phiếu và NĐ 32 đă xác định phạm vi điều chỉnh rất rơ. Cụ thể  “Chỉ những quan hệ thương phiếu phát sinh từ hoạt động thương mại, trong đó có sự tham gia của một hoặc một số tổ chức tín dụng vào quan hệ thương phiếu với tư cách là người chấp nhận cho vay  để thanh toán (...)”[1].

      Thật vậy, “Người chấp nhận” cho phép ta suy nghĩ, trước khi người kư phát ra lệnh cho người bị kư phát phải thanh toán vô điều kiện một số tiền xác định cho người thụ hưởng, th́ giữa họ đă đạt được sự thỏa thuận nhất định, chẳng hạn người bị kư phát thỏa thuận chấp nhận là người bảo lănh cho người kư phát.

     Hoặc trong trường hợp việc “thanh toán một số tiền nhất định” của người bị kư phát nhằm thực hiện việc trả một khoản nợ của người này đối với người kư phát HP th́, theo chúng tôi, trước đó, giữa họ cũng phải đạt được thỏa thuận cần thiết về việc áp dụng cơ chế hoạt động của HP (cách thức thanh toán bằng HP) vào việc thanh toán các hợp đồng mua bán hàng hoá[1].  

    Như vậy, sự thỏa thuận của các bên trong quan hệ HP đóng vai tṛ quan trọng, mà đặc biệt là sự thỏa thuận của người kư phát với người bị kư phát. Theo chúng tôi, đó là cơ sở để người kư phát ra lệnh hay yêu cầu người bị kư phát thanh toán không điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng.

II. Vai tṛ của hối phiếu

    Ngay từ khi xuất hiện, HP được xem là một phương tiện thanh toán hữu hiệu. Giảm đáng kể những rủi ro, thiệt hại trong quá tŕnh thực hiện các giao dịch mua bán, đáp ứng được nhu cầu thanh toán trong trường hợp có sự khác nhau về địa lư giữa nơi bán và  nơi mua. Và hiện nay, HP vẫn giữ vai tṛ quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế.

    Song song với vai tṛ là một phương tiện thanh toán, HP c̣n được xem là một công cụ tín dụng. Sở dĩ có vai tṛ này bởi v́ người ta thực hiện các hoạt động chiết khấu trên HP. Tín dụng chiết khấu HP được hiểu là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, mà thực chất của h́nh thức này là ngân hàng tiến hành mua lại các HP thương mại đang trong thời kỳ chưa đến hạn thanh toán[1] và cung ứng một khoản vốn cho các thương nhân để họ có điều kiện tiếp tục tái sản xuất. Khi kết thúc thời hạn chiết khấu, Ngân hàng sẽ đ̣i tiền ở người có nhiệm vụ trả tiền HP.

B. Phát hành và chấp nhận hối phiếu

I. Phát hành hối phiếu

    Để việc kư phát hành HP theo đúng pháp luật quy định, khi tham gia vào quan hệ HP các bên cần đáp ứng các điều kiện theo luật định. Chúng ta lần lượt xem xét điều kiện về nội dung, điều kiện về h́nh thức.

1.1.            Điều kiện về nội dung

    Trong phần trên, các quy định của pháp luật cho phép chúng ta đặt ra hai trường hợp có thể xảy ra từ việc thanh toán vô điều kiện một số tiền nhất định của người bị kư phát.

    Trong trường hợp tổ chức tín dụng đă thỏa thuận chấp nhận là người bị kư phát[1], th́ sự việc hoàn toàn đơn giản. Bởi lẽ bằng việc kư chấp nhận thanh toán HP, người bị kư phát sẽ trở thành chủ nợ của người kư phát; đồng thời, người này cũng thực hiện những ǵ đă cam kết với người kư phát. Sau khi thực hiện việc thanh toán số tiền cho người thụ hưởng, họ có quyền yêu cầu người kư phát thanh toán lại số tiền đó.

    Theo chúng tôi, trong trường hợp này, bên cạnh các điều kiện về tư cách thương nhân theo quy định tại Điều 2 Pháp lệnh thương phiếu, th́ các bên trong quan hệ HP phải đạt được sự thỏa thuận trước đó. Thật vậy, nếu không có điều kiện này, th́ một tổ chức tín dụng không thể thực hiện việc thanh toán theo lệnh của một người mà trước đó ḿnh không quen biết.

    Trong trường hợp thứ hai, việc “thanh toán một số tiền nhất định” của người bị kư phát nhằm thực hiện việc trả một khoản nợ của người này đối với người kư phát HP, theo chúng tôi, có những điều kiện đóng vai tṛ quan trọng trong quan hệ HP[1].

    * Quan hệ giữa việc kư phát hành HP với quyền chủ nợ của người kư phát đối với người bị kư phát (hoặc ngược lại). Hay nói khác đi, HP chỉ có giá trị khi nó thể hiện được một quyền chủ nợ, vào thời điểm kư phát hành HP hay vào một thời điểm trong tương lai, của người bị kư phát với người kư phát.

   * Xác định thời điểm tồn tại, giá trị, bản chất của quyền chủ nợ.

     Thứ nhất, HP được hiểu là một “chứng chỉ có giá (...) khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định trong tương lai cho người thụ hưởng”. Như vậy, quyền chủ nợ này không nhất thiết phải tồn tại vào ngày kư phát hành HP, nhưng quyền chủ nợ đó phải tồn tại thực tế vào ngày thanh toán. 

     Thứ hai, giá trị của quyền chủ nợ phải bằng hoặc lớn hơn số tiền ghi trên HP. Bởi lẽ, nếu số tiền ghi trên HP vượt quá số tiền của quyền chủ nợ, th́ hoặc người bị kư phát sẽ từ chối chấp nhận HP hoặc chỉ chấp nhận một phần số tiền ghi trên HP với điều kiện số tiền được chấp nhận bằng hoặc nhỏ hơn số tiền mà quyền chủ nợ thể hiện.

     Điều 12 và Điều 14 khoản 2 Pháp lệnh thương phiếu cho phép người bị kư phát kư chấp nhận theo hai khả năng: hoặc toàn bộ hoặc một phần số tiền ghi trên HP mà người thụ hưởng hay người kư phát không thể phản đối.

    Thứ ba, để đảm bảo được giá trị của HP, quyền chủ nợ đó phải chắc chắn tồn tại vào ngày thanh toán. Thật vậy, nếu quyền chủ nợ đó tồn tại vào ngày kư phát hành HP nhưng không tồn tại vào ngày thanh toán th́ HP coi như không có giá trị.

    Hơn nữa, nếu không đảm bảo yêu cầu này, việc từ chối thanh toán là hoàn toàn hợp lư.

   * Điều kiện đối với người kư phát hành HP. Người kư phát hành thương phiếu phải là các doanh nghiệp có tư cách thương nhân theo quy định của pháp luật.

1.2.            Điều kiện về h́nh thức

    Để thực hiện tốt quản lư nhà nước đối với hoạt động thương phiếu, Ngân hàng Nhà nước là người chịu trách nhiệm in, cung cấp và bảo quản mẫu thương phiếu. Tuy nhiên đó chỉ là điều kiện cần.

    Đối với HP, dựa trên mẫu in sẵn của Ngân hàng Nhà nước, người kư phát hành phải ghi đầy đủ các thông tin cần thiết theo quy định của pháp luật thương phiếu. Đó là những thông tin bắt buộc và không bắt buộc.

a. Thông tin bắt buộc

    Điều 11 Pháp lệnh thương phiếu quy định những nội dung bắt buộc mà thiếu một trong các nội dung đó, HP coi như không có giá trị.

   * Từ “Hối Phiếu” phải được ghi trên mặt trước của hối phiếu. Vấn đề là ư nghĩa của quy định này không chỉ dừng lại ở việc nhằm phân biệt chứng chỉ đó là Lệnh phiếu hay HP, mà nó c̣n là cơ sở để vận dụng chính xác các quy định của pháp luật cho việc giải quyết tranh chấp nếu có.   

   Trong trường hợp có yếu tố nước ngoài, từ “Hối Phiếu” cũng như các thông tin khác, phải được lập bằng tiếng Việt và tiếng Anh.

   * Lệnh yêu cầu thanh toán không điều kiện một số tiền xác định. 

   Lệnh này có thể được in bằng nhiều từ ngữ khác nhau. Nhưng chúng ta phải thừa nhận với nhau rằng, một khi lệnh yêu cầu thanh toán đă được thể hiện, th́ nó không thể bị tẩy xoá, hoặc thêm vào bất kỳ một điều kiện nào. C̣n việc dùng ngôn ngữ để thể hiện lệnh đó (ngắn hay dài, đơn giản hay phức tạp, rơ ràng, lịch sự..) hoàn toàn phụ thuộc vào mẫu in sẵn của Ngân hàng. Tóm lại, có hai điểm cần chú ư:

    Thứ nhất, lệnh yêu cầu thanh toán vô điều kiện;

    Thứ hai, lệnh yêu cầu thanh toán đó phải ghi rơ một số tiền xác định, bằng số và bằng chữ. Trong trường hợp có sự chênh lệch giữa hai cách ghi, th́ cách ghi nào thể hiện số tiền nhỏ hơn có giá trị thanh toán, (điều 6 PLTP).

    * Thời hạn thanh toán HP do người bán hàng hoá, người cung ứng dịch vụ thương mại và người mua hàng hoá thỏa thuận, nhưng không quá 180 ngày đối với HP sử dụng cho hoạt động thương mại trong nước và không quá 364 ngày đối với HP sử dụng trong hoạt động xuất, nhập khẩu của doanh nghiệp Việt Nam với thương nhân nước ngoài, trừ trường hợp HP được kư phát để thanh toán ngay khi xuất tŕnh (trong thời gian 90 ngày). 

     Tuy nhiên pháp luật chỉ cho phép người kư phát hành xác định thời hạn thanh toán theo một trong các thời hạn sau:

   - Ngay khi xuất tŕnh;

   - Sau một thời hạn nhất định kể từ ngày HP được chấp nhận;

   - Sau một thời hạn nhất định kể từ ngày kư phát hành;

   - Thanh toán vào một ngày xác định cụ thể.

   Trong trường hợp HP có ghi nhiều thời hạn thanh toán hoặc khác với các quy định tại khoản 1 Điều 33 PLTP là không có giá trị.

   * Địa điểm thanh toán HP. Yêu cầu này rất cần thiết bởi lẽ nó cho phép người thụ hưởng biết nơi nào họ được thanh toán. 

   Nếu chúng ta thừa nhận địa điểm thanh toán HP sẽ là nơi cư trú hoặc trụ sở của người bị kư phát, th́ quy định này hoàn toàn ngược với quy định tại Đều 289, khoản 2, điểm b BLDS 1995[1]. Hơn nữa, nếu ghi nhận địa điểm thanh toán là nơi cư trú hoặc trụ sở của người bị kư phát sẽ rất thuận tiện cho việc xác định Ṭa án giải quyết trong trường hợp người bị kư phát đă kư chấp nhận nhưng không thanh toán đầy đủ, đúng cam kết.  

   * Tên và địa chỉ của người bị kư phát. Quy định này có ư nghĩa ở việc thể hiện rơ hơn bản chất pháp lư cũng như cơ chế hoạt động của HP. Nếu không có tên và địa chỉ của người bị kư phát, th́ HP sẽ trở thành Lệnh phiếu. Người kư phát hành HP cũng trở thành người phát hành và chứng chỉ có giá này cũng chỉ là sự ghi nhận việc cam kết thanh toán vô đều kiện một số tiền xác định của người phát hành đối với người thụ hưởng.  

   * Tên và địa chỉ của người thụ hưởng. Quy định này có ư nghĩa xác định ai là người thụ hưởng đầu tiên. Do vậy tên và địa chỉ của họ phải được ghi chính xác nhằm tránh sự nhầm lẫn có thể xảy ra. Tuy nhiên, pháp luật cũng chưa quy định cụ thể cách ghi trong trường hợp có nhiều người thụ hưởng, và sẽ kéo theo hậu quả là HP phải thể hiện tên của tất cả ai là người thụ hưởng, hoặc chỉ ghi tên người đại diện.

   * Địa điểm và ngày kư phát hành. Việc ghi rơ yêu cầu này nhằm, một mặt, xác định được thời điểm để tính thời hạn thanh toán; mặt khác, xác định luật nào sẽ được áp dụng trong trường hợp có yếu tố nước ngoài trong quan hệ HP, (Điều 4 PLTP). 

   * Tên, địa chỉ và chữ kư của người kư phát. Yêu cầu này nhằm đảm bảo quy định “người kư phát chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc kư phát hành HP và cũng là người chịu trách nhiệm cuối cùng trong việc thanh toán số tiền trên HP nếu người bị kư phát từ chối chấp nhận một phần hay toàn bộ số tiền trên HP khi HP được xuất tŕnh đề nghị chấp nhận đúng hạn, đúng các điều kiện theo luật định”. 

   Bên cạnh những thông tin bắt buộc để đảm bảo giá trị của HP, người kư phát hành có thể ghi thêm những thông tin không bắt buộc. 

b. Thông tin không bắt buộc

    Việc thanh toán số tiền ghi trên HP phải được ghi bằng đồng Việt Nam hoặc trong trường hợp sử dụng ngoại tệ th́ phải tuân thủ các quy định của pháp luật về quản lư ngoại hối.

    Việc cam kết bảo lănh hoặc được ghi trên HP hoặc được lập thành văn bản riêng kèm theo HP: từ “bảo lănh”, số tiền cam kết bảo lănh, tên, địa chỉ, chữ kư của người bảo lănh và tên người được bảo lănh, (Điều 20 PLTP). Những nội dung chuyển nhượng, cầm cố, nhờ thu qua ngân hàng được ghi trên tờ phụ đính kèm theo HP.

   Người kư phát hành ghi các cụm từ “không chuyển nhượng”; người cầm cố HP phải ghi cụm từ “ chuyển giao để cầm cố”.

   Về nguyên tắc, HP chỉ được kư phát một lần, nhưng pháp luật cũng dự liệu trong những trường hợp người thụ hưởng có quyền yêu cầu người kư phát kư phát hành thêm một bản HP khác. Cụ thể:

    - Hối phiếu bị mất hoặc bị hư hỏng. Trong trường hợp này, người thụ hưởng phải thông báo rơ HP bị mất trong trường hợp nào, hoặc nguyên nhân hư hỏng của HP và phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của việc thông báo.

    - Hối phiếu không thể hiện đầy đủ các nội dung bắt buộc theo quy định của Điều 11, khoản 1 PLTP. Trong trường hợp này, người thụ hưởng chỉ cần chỉ ra những thiếu sót của HP.

   Để đảm bảo lợi ích cho người thụ hưởng, pháp luật cho phép người kư phát kư phát hành thêm một HP nữa. Nhưng pháp luật không cho phép, để bảo vệ lợi ích của ḿnh, người thụ hưởng sử dụng bản sao (copie) của HP vào việc xuất tŕnh để được chấp nhận. Điều này hoàn toàn có lợi cho việc chống nguy cơ mất mát, hư hỏng nhưng cũng đem lại những rắc rối xuất phát từ sự gian lận của người thụ hưởng nếu không có biện pháp quản lư chặt chẽ.  

II. Chấp nhận hối phiếu

   Trong quan hệ hối phiếu, vào thời điểm kư phát hành, HP chỉ là chứng chỉ ghi nhận lệnh thanh toán, chỉ định người có thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Để HP được thanh toán, người thụ hưởng phải xuất tŕnh cho người bị kư phát để người này kư chấp nhận. Đây cũng là một trong những điều kiện cho phép HP được chuyển nhượng, (khoản 2 Điều 13 PLTP).

2.1. Điều kiện về nội dung

   - Việc kư chấp nhận thanh toán của người bị kư phát, một lần nữa, thể hiện sự thỏa thuận trước đó của ḿnh đối với người kư phát hành, cũng như công nhận sự tồn tại của người này, (khoản 2 Điều 16 PLTP). Bằng việc kư chấp nhận thanh toán, người bị kư phát trở thành con nợ đầu tiên và chịu trách nhiệm cuối cùng về việc thanh toán số tiền đă kư chấp nhận trên HP, (điểm b, khoản 2, Điều 10 NĐ 32).

   Vấn đề chúng ta cần xem lại quy định của pháp luật. Theo chúng tôi, người bị kư phát công nhận sự tồn tại của người kư phát hành bằng việc kư chấp nhận HP là chưa thực sự rơ ràng, (khoản (2 Điều 16 PLTP). Thực vậy, nếu chúng ta cho rằng việc công nhận sự tồn tại này là sự công nhận hiện hữu vật chất hay hiện hữu pháp lư đều không chính xác, bởi v́ người bị kư phát có chấp nhận hay không th́ người kư phát vẫn tồn tại. Theo chúng tôi, công nhận sự tồn tại này chính là công nhận sự thoả thuận trước đó, hoặc là việc công nhận sự cam kết chấp nhận cho vay để thanh toán HP cho người thụ hưởng, hoặc là thừa nhận tồn tại một khoản nợ của người bị kư phát đối với người kư phát.

   - Năng lực chủ thể của người bị kư phát.

   Đối tượng điều chỉnh của pháp luật thương phiếu là các quan hệ thương phiếu phát sinh từ hoạt động thương mại. Hơn nữa, chủ thể tham gia vào quan hệ thương phiếu chỉ là các doanh nghiệp có tư cách thương nhân. Như vậy được xem là không có giá trị những chữ kư của những thương nhân không phải là doanh nghiệp.

   - Sự chấp nhận của người bị kư phát là vô điều kiện mà không được đưa ra bất kỳ một điều kiện nào dù người này chỉ chấp nhận một phần hay toàn bộ số tiền ghi trên HP.

   Hơn nữa, người bị kư phát thực hiện việc chấp nhận ngay khi HP được xuất tŕnh. Có nghĩa rằng, HP được coi là bị từ chối chấp nhận, nếu không được người bị kư phát kư chấp nhận ngay khi xuất tŕnh. Hay nói khác đi, pháp luật không cho phép người bị kư phát một khoảng thời gian để kiểm tra lại tính xác thực của HP ?

2.2. Điều kiện về h́nh thức

   Điều 8 NĐ 32 ngày 5 tháng 7 năm 2001 quy định việc xuất tŕnh HP để chấp nhận được coi là hợp lệ khi có đủ các điều kiện sau:

   - Do người thụ hưởng hoặc người đại diện hợp pháp của người  thụ hưởng xuất tŕnh;

   - Chưa hết thời hạn thanh toán;

   - Xuất tŕnh đúng địa chỉ của người bị kư phát quy định trên HP;

   - HP được xuất tŕnh trong thơI giờ làm việc của ngày làm việc.

   Bên cạnh đó, việc xuất tŕnh HP thông qua bưu điện dưới h́nh thức thư bảo đảm được coi là xuất tŕnh hợp lệ. Ngày xuất tŕnh HP để chấp nhận trong trường hợp này được tính theo dấu bưu điện nơi gửi.

   Việc chấp nhận phải được thể hiện bằng việc người bị kư phát ghi trên tờ HP từ “chấp nhận”, số tiền đă ghi trên HP (hoặc một phần số tiền được chấp nhận), ngày kư chấp nhận và chữ kư của ḿnh. Đây là những yếu tố gắn liền với nhau mà không thể thiếu một yếu tố nào khi thể hiện sự chấp nhận. Đồng thời, pháp luật quy định rất chặt chẽ về h́nh thức và ngôn từ thể hiện sự chấp nhận. Như vậy, sẽ không có giá trị pháp lư đối  với những chấp nhận bằng lời nói.

   Tuy nhiên, sẽ có vấn đề được đặt ra, bên cạnh việc quy định rất chặt chẽ về h́nh thức và ngôn từ thể hiện sự chấp nhận, là liệu có giá trị pháp lư hay không đối với các ngôn từ khác thể hiện ư nghĩa tương đương với ư nghĩa của từ “chấp nhận”. Theo chúng tôi, khoản 1 Điều 14 PLTP nên quy định một cách mềm dẻo hơn, chẳng hạn: “Việc chấp nhận phải được thể hiện bằng việc người bị kư phát ghi trên tờ HP từ “chấp nhận”, hoặc bởi một từ có ư nghĩa tương đương thể hiện sự chấp nhận, số tiền đă ghi trên HP, ngày kư chấp nhận và chữ kư của ḿnh”.  

2.3. Hiệu lực của sự chấp nhận

   Điều 16 PLTP, Điều 10 khoản 2 NĐ 32 quy định, bằng việc chấp nhận một HP, người chấp nhận có nghĩa vụ sau: cam kết thanh toán HP theo các nội dung đă chấp nhận; công nhận sự tồn tại của người kư phát và sự thanh toán đúng hạn HP của người kư phát cho người thụ hưởng đă được chuyển nhượng HP theo các quy định tại chương IV PLTP.

   Cũng bằng việc kư chấp nhận HP của người bị kư phát, người thụ hưởng có quyền khởi kiện đối với người này.

Ths. Nguyễn Châu Quư - Phó Trưởng bộ môn Luật Tư Pháp, Khoa luật, Đại học Cần Thơ).

 

[1] ND 32/CP ngày 05/7/2001, Điều 1.

[Trở về]



Các bài mới trong mục này 

Phân định thẩm quyền trong tố tụng h́nh sự Việt Nam, [05-09-2011]
Kiểm soát quyền lực nhà nước trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xă hội chủ nghĩa Việt Nam, [05-09-2011]
Sáu vấn đề cảnh báo sai phạm về bán đấu giá tài sản và các giải pháp pḥng ngừa, [15-07-2011]
Trẻ em được sinh ra ở nước ngoài: Có nên công nhận quốc tịch VN?, [05-07-2011]
Sự cần thiết của việc hợp nhất Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, [31-05-2011]
Góp ư sửa đổi, bổ sung Bộ luật Dân sự năm 2005: di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực khi nào?, [31-05-2011]
Thực tiễn thi hành và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đối với các quy định của Luật Đất đ, [31-05-2011]
Một số kinh nghiệm pháp luật của Cộng ḥa Pháp liên quan đến cấu trúc Bộ luật Dân sự, tài sản và sở hữu , [31-05-2011]
Thực hiện các quy định của pháp luật về kê khai tài sản, thu nhập của cán bộ, công chức và một vài kiến nghị , [02-05-2011]
Vai tṛ của Viện kiểm sát trong hoạt động điều tra h́nh sự, [02-05-2011]
Các bài khác »
Disclaimer: The above information are collected from various sources in internet.We will not be liable for indirect, special, or consequential damages (or any loss of revenue, profits, or data) arising in connection with these news. We are not news publisher or editor.

 

Pháp điển Luật Việt nam
Bạn đọc thân mến

Đây không phải là trang báo điện tử. Tin bài được sưu tầm từ các nguồn khác nhau chỉ nhằm phục vụ việc nghiên cứu và tham khảo.

T́m hiểu thêm
    bottom_e.htm




1998-2011 © Vietlawconsultants.com and Vietlaw.biz / Disclaimer

Sitemap / Sơ đồ Website Phần tiếng Việt / Staff / Email