top
   
 

 
left_vietnamese.htm
Giới thiệu

VPLS Hải Hà

Lĩnh vực hoạt động

Thành viên VLC

Biểu phí / Thanh toán

Liên lạc với chúng tôi !

Tuyển dụng

Q & A

Pháp điển Luật Việt nam
Luật Việt nam

Tin pháp luật

Nghiên cứu - Binh lụận

Thực tiễn hành chính

Thực tiễn xét xử

Giải quyết tranh chấp

Luật quốc tế

Dân sự có yếu tố nước ngoài

Thương mại quốc tế

Điều ước quốc tế

Pháp và Liên minh Châu Âu

Chuyên mục

Hợp đồng

Sở hữu trí tuệ

Thuật ngữ luật

  
Từ bắt đầu bằng
Từ đầy đủ

Q & A
   Thủ tục hành chính
   Tranh chấp dân sự


Người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của đương sự khác nhau thế nào ?
17-01-2008

Câu hỏi:
 
Theo điều 161 BLTTDS thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án. Điều 58 khoản 1 điêm h cũng qui định đương sự có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Vây địa vị pháp lý của Người đại diện cho đương sự và Người bảo vệ quyền lợi của đương sự khác nhau ra sao và một người có thể đồng thời vừa đại diện và vừa bảo vệ quyền lợi cho đương sự hay không?
 
Trả lời:

Mặc dù không có qui định cấm nào trong Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS), nhưng các Tòa án Việt nam hiện nay không chấp nhận một người đồng thời vừa là đại diện theo ủy quyền vừa là người bảo vệ quyền lợi của đương sự.
 
Sự cấm đoán này không có lý do xác đáng và thiếu cơ sở. Một số người viện ra rằng ngay luật Tố tụng của Cộng Hòa Pháp cũng yêu cầu phải có người đại diện, được gọi là đại tụng viên (Avoué), độc lập với Người bảo vệ (Avocat Plaidant). Thực ra  vai trò của Đại tụng viên trong luật tố tụng của Pháp khác về cơ bản với Người đại dịên trong luật Tố tụng Việt nam và hơn nữa Đại tụng viên cũng chỉ bắt buộc ở cấp phúc thẩm (Cour d'appel). Đứng về logích thì Người đại diện của đương sự được thực hiện các quyền của đương sự mà họ đại diện trong đó có quyền tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ. Đứng về mặt địa vị pháp lý, chúng ta sẽ thấy hai họat động “đại diện” và “bảo vệ” là bổ sung cho nhau chứ không mâu thuẫn nhau đến mức phải do hai người thực hiện.
 

I. Người đại diện trong tố tụng dân sự

1. Khái niệm  
Ðiều 161 nói về "Quyền khởi kiện vụ án" qui định như sau "Cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình". Điều 161 BLTTDS thực ra được viết không rõ vì:
  • Thứ nhất: Người đại diện trong tố tụng dân sự tham gia không chỉ ở giai đọan khởi kiện mà còn cả giai chuẩn bị xét xử và cả phiên tòa nữa
  • Thứ hai: khái niệm người “đại diện hợp pháp” không rõ. Tòa án Tối cao có ý giải thích rằng người đại dịên hợp pháp ở đây chỉ là người đại dịên theo pháp luật (Thông tư 01 TATC năm 2005). Nói cách khác, người đại diện theo ủy quyền sẽ khó, thậm chí là không thể, đại diện cho đương sự trong giai đọan khởi kiện. Thực ra người đại diện hợp pháp phải bao gồm cả người đại diện theo pháp luật và người đại diện được đương sự ủy quyền hợp lệ.
Tùy vào căn cứ pháp lý của việc đại diện mà luật Việt nam phân biệt “Đại diện theo pháp luật” và “Đại dịên theo ủy quyền”.
A. Đại diện theo pháp luật
Đây là người đại diện trong trường hợp đương sự không thể tự mình tham gia việc kiện do :
  • Chưa đủ tuổi mà luật qui định (thường là 18 tuổi trừ một số việc kiện đặc biệt)
  • Mất năng lực hành vi (bị tâm thần…)
  • Đương sự là tổ chức (công ty, hợp tác xã, hiệp hội, đoàn thể…)
Trong những trường hợp này, luật pháp sẽ qui định ai là đại diện cho đương sự.
Đó là lý do người đại diện này được gọi là đại diện “theo pháp luật”. Ví dụ: theo điều 141 khoản 1 và điều 62 Bộ luật dân sự thì nếu đương sự chưa thành niên (chưa đủ 18 tuổi), thì người đại diện theo pháp luật là cha và/hoặc mẹ. Nếu cha mẹ đều không còn, bị mất năng lực hành vi hoặc bị Tòa án hạn chế quyền cha mẹ, thì người đại diện sẽ là người anh/chị cả hoặc anh/chị lớn tuổi nhất. Nếu không còn anh chị em ruột, thì người đại diện của đương sự sẽ là ông (hoặc bà) bên nội hoặc bên ngoại. Nếu không còn ông bà, thì người đại diện sẽ là một trong những người là bác, chú, cậu, cô, dì của đương sự.
 Trong trường hợp luật không qui định hoặc có qui định nhưng người đại diện theo pháp luật lại rơi vào trường hợp bị cấm đại diện thì Tòa án có thể chỉ định một người đại diện theo pháp luật cho đương sự. Ví dụ: Trong trường hợp công ty khởi kiện chính người đại diện theo pháp luật của mình.
B. Đại diện theo ủy quyền
Theo điều 161 BLTTDS thì chỉ trừ trường hợp luật qui định đương sự hoặc người đại diện theo pháp luật của họ phải trực tiếp tham gia việc kiện, những người này có quyền làm văn bản ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng thay. Người đại diện này được gọi là đại diện “theo ủy quyền” vì căn cứ của việc đại diện là thỏa thuận ủy quyền giữa hai bên.
 Lý do của việc ủy quyền có thể nhiều: già yếu, bận công tác, không hiểu rõ thủ tục, khả năng trình bày không lưu loát, cách trở về địa lý hoặc đơn giản là không muốn ra tòa.
Luật Việt nam không yêu cầu Người đại diện theo ủy quyền phải luât sư mà chỉ cần là người không không thuộc trường hợp bị cấm đại diện qui định tại điều 75 BLTTDS. Tuy vậy, người đại diện cần có hiểu biết sâu về thủ tục tố tụng để có thể sử dụng hiệu quả và trong thời hạn luật định những quyền mà luật pháp dành cho họ.
2. Quyền và nghĩa vụ của người đại diện
Theo điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự thì người đại diện theo pháp luật của đương sự được thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự mà họ đại diện.
Đối với đối với người đại diện theo ủy quyền thì họ được thực hiện tất cả hoặc một phần quyền và nghĩa vụ của đương sự theo nội dung của văn bản ủy quyền.
 Văn bản ủy quyền soạn cẩu thả, ví dụ “ủy quyền toàn bộ cho luật sư X tham gia tố tụng” có thể gây rắc rối cho chính luật sư ví dụ khi Tòa yêu cầu người đại diện phải nộp án phí.
Những quyền cơ bản của đương sự (nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan), do vậy cũng là quyền của người đại dịên, bao gồm:
1. Quyền cung cấp chứng cứ và yêu cầu Tòa án thu thập chứng cứ
Cụ thể :
  • Cung cấp chứng cứ để chứng minh để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự mình đại diện mình;
  • Yêu cầu người thứ ba đang lưu giữ, quản lý chứng cứ cung cấp chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho Tòa án;
  • Ðề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ mà tự mình không thể thực hiện được
  • Đề nghị triệu tập người làm chứng
  • Trưng cầu giám định
  • Yêu cầu định giá
  • Khiếu nại với VKS về những chứng cứ mà Tòa án đã xác minh, thu thập do đương sự khác yêu cầu;
2. Quyền được biết, ghi chép và sao chụp các chứng cứ đương sự khác xuất trình hoặc chứng cứ mà tòa án thu thập
Đây là quyền quan trọng của đương sự, qui định tại  điểm d, khoản 2, Điều 58 BLTTDS, cho phép một bên biết và chuẩn bị chứng cứ, lập luận để tranh cãi về các yêu cầu mà bên kia đưa ra.
 
Luật tố tụng Việt nam hiện nay chỉ qui định nghĩa vụ của đương sự cung cấp chứng cứ cho Tòa án mà không qui định trách nhiệm của đương sự và/hoặc Tòa án công bố các chứng cứ cho các đương sự khác biết. Vì vậy việc tiếp cận các chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc Tòa án đã thu thập được thực hiện qua việc đọc và nghiên cứu hồ sơ ngay tại trụ sở Tòa án. Do vậy quyền được biết chứng cứ tài liệu phải bao gồm cả quyền "nghiên cứu hồ sơ".
 
Hướng dẫn của Tòa án tối cao (Thông tư 01 TATC năm 2005) hạn chế việc ghi chép và sao chụp tài liệu:
  • Đương sự chỉ được yêu cầu ghi chép, sao chụp tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ trước khi Toà án mở phiên toà. Do không có qui định về thời hạn nên thực tế ở nhiều Tòa án, đương sự chỉ được tiếp cận hồ sơ một vài ngày ngay trước phiên toà và như vậy không có đủ thời gian để chuẩn bị lâp luận để tranh luận trước tòa.
  • Khi có yêu cầu ghi chép hoặc  sao chụp tài liệu đương sự phải làm đơn nêu các tài liệu muốn sao chụp, ghi chép.
  • Tài liệu chứng cứ yêu cầu ghi chép, sao chụp không được liên quan đến "bí mật nhà nước", "bí mật nghề nghiệp", "bí mật kinh doanh", "bí mật đời tư". Trừ khái niệm bí mật nhà nước là có định nghĩa tương đối rõ trong luật, những khái niệm khác “bí mật nghề nghiệp”, “bí mật kinh doanh”, “bí mật đời tư” (ví dụ việc ly hôn) đều không được luật định rõ ràng vì vậy mà tùy theo cách đánh giá của mỗi Tòa án mà có tài liệu được chụp có tài liệu lại không được chụp (thậm chí là không được biết)
  • Việc ghi chép, sao chụp phải được thực hiện tại trụ sở của Toà án dưới sự giám sát của cán bộ Toà án. Đương sự cần tự chuẩn bị phương tiện ghi chép hoặc sao chụp (ví dụ máy ảnh). Nếu không, việc nhờ tòa án sao chụp tài liệu (đương sự phải trả chi phí) có thể bị từ chối (vì lý do điều kiện của Tòa án không đáp ứng được !).
3. Quyền tham gia phiên tòa
Bao gồm
  • Tham gia phiên tòa
  • Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
  • Ðề xuất với Tòa án những vấn đề cần hỏi người khác
  • Được đối chất với các đương sự khác hoặc với nhân chứng;
  • Tranh luận tại phiên tòa
  • Quyền kháng cáo, khiếu nại và đề nghị giám đốc
  • Ðược cấp trích lục bản án, quyết định của Tòa án;
  • Kháng cáo, khiếu nại bản án, quyết định của Tòa án
  • Phát hiện và thông báo cho người có thẩm quyền kháng nghị căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật
4. Các quyền khác
Một số quyền sau đây của người đại diện cũng không kém phần quan trọng ví dụ
  • Nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình
  • Đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời
  • Quyền tự thỏa thuận với các đương sự khác và tham gia việc hòa giải
5. Nghĩa vụ của người đại diện
  • Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án
  • Chấp hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết vụ án;
  • Tôn trọng Tòa án
  • Chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa;
  • Nộp tiền tạm ứng án phí, án phí, lệ phí

II. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự

1. Khái niệm
Theo Điều 58 khoản 1 điêm h BLTTDS thì đương sự có quyền nhờ một người khác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Tương tự như trường hợp người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự không nhất thiết phải là luật sư. Tuy vậy, khác với trường hợp người đại diện, luật qui định điều kiện nghiêm ngặt hơn đối với người bảo vệ và lợi ích hợp pháp mà không phải là luật sư. Họ phải là công dân Việt nam
  • Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (18 tuổi trở lên)
  • Chưa bị kết án hoặc bị kết án nhưng đã được xóa án tích
  • Không đang bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, cơ sở giáo dục và quản chế hành chính
  • Không phải là cán bộ, công chức trong các ngành Tòa án, Kiểm sát, Công an
Ngoài ra, người bảo vệ quyền và lọi ích hợp pháp của đượng sự cần “được Tòa án chấp nhận” (Điều 63 BLTTDS). Tòa án Tối cao cho ra “Giấy chứng nhận bảo vệ quyền đương sự”. Thực chất đây là một loại giấy phép con trong đó cả mục đích lẫn hiệu quả quản lý đều không rõ và không tương xứng với quyền của đương sự được yêu cầu người khác bảo vệ.
2. Quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Cả quyền lẫn nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, liệt kê tại điều 64 của BLTTDS, thực chất chỉ là một bộ phận quyền của đương sự. Theo điều 64 BLTTDS thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền:
  • Xác minh, thu thập chứng cứ và cung cấp chứng cứ cho Tòa án
  • Ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
  • Tham gia hòa giải
  • Tham gia phiên tòa (Nếu không có mặt tại phiên tòa thì có thể gửi văn bản bảo vệ) 
  • Tham gia tranh luận
  • Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng khác
  • Tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm nếu Tòa án xét thấy cần thiết.

Như chúng ta đã thấy, quyền của người bảo vệ đương sự không có gì đặc biệt hơn quyền của người đại diện đương sự.

 Những sự khác biệt so với quyền của đương sự (và do đó khác với người đại diện của đương sự) mà chúng tôi liệt kê ra sau đây là không đáng kể và thiếu cơ sở khoa học.
        • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được tham gia tố tụng từ khi khởi kiện (Điều 64 khoản 1). Trong thực tế, điều này ít ý nghĩa đối với người đại diện theo ủy quyền vì chỉ sau khi Tòa án thụ lý thì người bảo vệ mới được cấp giấy chứng nhận người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
        • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được "Nghiên cứu hồ sơ vụ án" (Điều 64 khoản 2). Đối với đương sự, BLTTDS  không nói rõ quyền nghiên cứu hồ sơ mặc dù là đương sự có quyền được biết, ghi chép và sao chụp các chứng cứ có trong hồ sơ (xem ở trên).
        • Tại phiên tòa, người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự được quyền trực tiếp đặt câu hỏi với những người tham gia tố tụng khác (Điều 222 BLTTDS). Điều 58 khoản 2, l chỉ cho đương sự quyền “đề xuất với Tòa án" những vấn đề cần hỏi người khác. Thực chất thì điều 222 BLTTDS cũng cho đương sự các quyền ngang với quyền của người bảo vệ, sự khác biệt có chăng chỉ là thứ tự hỏi mà thôi (đương sự đặt câu hỏi sau người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp).

Như vậy, có thể nói người đại diện và người bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự có chức năng gần nhau và đều xuất phát từ quyền luật định của đương sự, đặc biệt là quyền được tự bảo vệ. Việc giải thích để tách rời giữa người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của đương sự trong quá trình tố tụng là khiên cưỡng và thiếu cơ sở khoa học.

Ls. Nguyễn Hải Hà
Đoàn luật sư Hà nội / Đoàn luật sư Paris

TỪ KHÓA:



Các bài mới trong mục này 

Kết hôn theo thủ tục Việt nam giữa công dân Việt nam với người nước ngoài, [02-09-2008]
T́m hiểu thông tin về đất đai qua hồ sơ địa chính, [27-06-2008]
Các loại giấy tờ cư trú của người nước ngoài tại Việt nam, [29-04-2008]
Bản chính giấy khai sinh bị thất lạc: thủ tục xin cấp bản sao, cấp lại bản chính và đăng kư lại việc sinh, [02-04-2008]
Thủ tục xin chứng thực bản sao diễn ra thế nào ?, [26-03-2008]
Thế nào là cấp bản sao từ sổ gốc ? Thủ tục xin bản sao từ sổ gốc ra sao ?, [26-03-2008]
Người đại diện và người bảo vệ quyền lợi của đương sự khác nhau thế nào ?, [17-01-2008]
Cách thức làm đơn khởi kiện hợp lệ, [01-08-2007]
Các bài khác »
Disclaimer: The above information are collected from various sources in internet.We will not be liable for indirect, special, or consequential damages (or any loss of revenue, profits, or data) arising in connection with these news. We are not news publisher or editor.

 

Pháp điển Luật Việt nam
Bạn đọc thân mến

Đây không phải là trang báo điện tử. Tin bài được sưu tầm từ các nguồn khác nhau chỉ nhằm phục vụ việc nghiên cứu và tham khảo.

T́m hiểu thêm
    bottom_e.htm




1998-2011 © Vietlawconsultants.com and Vietlaw.biz / Disclaimer

Sitemap / Sơ đồ Website Phần tiếng Việt / Staff / Email